Đang tải...
Loading...
Đang tải dữ liệu...
CHÚNG SANH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ, PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN, PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC, PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH..

Bài 5 : KINH A DI ĐÀ  chân nghĩa
PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH

 

I.    Thất Chủng Lập Đề:
Theo quy củ của tông Thiên Thai thì mỗi bắt đầu giảng một bộ kinh nào, trước tiên phải giảng “Thất chủng lập đề” bảy cách lập đề và. Bảy cách lập đề gồm 3 loại đề đơn, 3 loại đề kép và 1 loại đề đầy đủ, tức là đơn tam, phức tam và cụ túc nhất.
Ba loại đề đơn: “Đơn” nghĩa là đơn thuần, chỉ đơn thuần lấy một tên, hoặc người, hoặc pháp, hoặc dụ để đặt thành tên gọi cho bộ Kinh.
1.    Tên Người Lập Đề (Đơn Nhân Lập Đề)
Ví dụ như “Phật thuyết A Di Đà Kinh”. Phật là người, A Di Đà cũng là người; cho nên nói chỉ dùng người lập đề, dùng người đại diện cho tên một bộ kinh. Vì “A Di Đà Kinh” là pháp môn Tịnh Độ, nói về thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, cho nên dùng tên “A Di Đà Phật” làm đại biểu.
2.     Pháp Lập Đề (Đơn Pháp Lập Đề)
Kinh nào chỉ dùng pháp đặt tên? Thí dụ như “Kinh Niết Bàn”. Niết Bàn vốn là một pháp; “Niết” nghĩa là bất sanh, “Bàn” nghĩa là bất diệt. Niết Bàn là pháp không sanh không diệt, là pháp không có sanh diệt.
3.     Dụ Lập Đề (Đơn Dụ Lập Đề)
“Đơn dụ” là chỉ dùng một ví dụ để lập đề, như “Kinh Phạm Võng” là dùng ví dụ đặt thành tên Kinh. 
4.    Tên Người với Pháp Lập Đề  (Nhân Pháp Lập Đề)
Ví như “Văn Thù Vấn Bát Nhã Kinh”, Bồ tát Văn Thù là người, Bát Nhã là pháp. Bồ tát Văn Thù là một vị Bồ tát đại trí đại tuệ, Ngài hỏi về Bát Nhã, phải là một người trí tuệ mới có thể hỏi về pháp trí tuệ; nếu Ngài không phải là một người có trí tuệ thì sẽ không hỏi về loại pháp trí tuệ nầy.
5.    Tên Người với Dụ Lập Đề (Nhân Dụ Lập Đề)
Thí dụ như “Như Lai Sư Tử Hống Kinh”. “Như Lai” là một trong 10 đức hiệu của Phật, Như Lai là người. Sư tử hống (tiếng rống của sư tử) là dụ, ví như Như Lai thuyết pháp giống như sư tử rống. Nên nói: “Sư tử nhất hống, bách thú giai cụ” (sư tử rống lên, trăm thú đều sợ). Một khi sư tử rống lên thì tất cả ác thú bất luận là sói, trùng, hổ, beo v.v.. thảy đều trở nên hiền lành, thậm chí run sợ tè dầm, không còn biết gì nữa! Kinh Như Lai Sư Tử Hống nầy dùng phương thức “nhân dụ lập đề”.
6.     Pháp với Dụ Lập Đề (Pháp Dụ Lập Đề)
Thế nào gọi là pháp dụ? Chính là “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa” nầy. “Diệu Pháp” là pháp, “Liên Hoa” là dụ; lấy Diệu Pháp ghép lại với Liên Hoa thành danh xưng của kinh, bộ kinh nầy dùng phương thức “pháp dụ lập đề”.
7.    Một Đề Đầy Đủ (Cụ Túc Nhất)
Theo cách thức này, người ta ghép cả 3 yếu tố lại, người, pháp và dụ làm thành tên gọi cho Kinh, như “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh”. “Đại Phương Quảng” là pháp; “Phật’ là người; “Hoa Nghiêm” là dụ. Cho nên tên kinh “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh” là đầy đủ cả “nhân, pháp, dụ”, thuộc về phương thức “Cụ túc nhất” trong bảy cách lập đề.
Người nghiên cứu Phật Pháp nhất định phải ghi nhớ lấy bảy cách lập đề nầy, trong giới hạn tối thiểu cũng có thể giảng ra được. Nếu không thì chẳng phải là người nghiên cứu Phật Pháp.
Trong “Đại Tạng Kinh” có nhiều cách phân loại, Kinh điển thì nhiều, có trên mấy ngàn quyển, nhưng đều không ngoài bảy cách lập đề nầy. Cho nên khi xem kinh điển, quý vị chỉ nhìn qua là biết bộ kinh nầy dùng phương thức lập đề nào.  Nếu nhận rõ được, tự nhiên có thể thâm nhập Kinh tạng; có thâm nhập kinh tạng mới có được trí tuệ như biển. Còn nếu quý vị ngay cả cái tên cũng không nhận ra, như được hỏi: Sao gọi là “Niết Bàn Kinh”? thì trả lời rằng: “Tôi không biết!”.  Ngay cả tên của “Kinh Niết Bàn” cũng không rõ, thì quý vị đọc “Kinh Niết Bàn” không có ích lợi gì!
Cho nên bảy  cách lập đề rất quan trọng. Biết rõ “bảy loại lập đề” là có thể nghiên cứu Phật Pháp được!
II.    Thích “Kinh” (Giải thích chữ “Kinh”)
Bây giờ giảng đến chữ “kinh”. Mỗi người chúng ta đều rất quen thuộc với chữ “Kinh”, quen thì quen đó, nhưng rốt cuộc quý vị có nhận biết được nó hay không?  Như tối hôm qua, tôi dạy một chữ mới, tối nay hỏi lại “đây là chữ gì”, không ai nhớ cả. Giờ dạy đến chữ ‘kinh”, tôi e rằng cũng sẽ lập lại tình trạng như vậy; đã giảng qua rất nhiều lần, nhưng quý vị thử bảo ai đó giảng lại chữ ‘kinh” nầy? Người đó sẽ ấm ớ, không biết giảng ra sao.
Ý nghĩa của chữ “Kinh” như thế nào?
Kinh có nghĩa của chữ “Kính” (徑) trong “kính lộ” (徑 路), tức là “con đường thẳng”, là con đường mà ta đi từ địa vị phàm phu đến quả vị Phật.
- “Pháp bổn”—là “căn bổn của các pháp”.
- “Hiển diệu”—cũng có thể nói là “hiển thị”, tức là giải bày một cách minh bạch, sáng tỏ.
-  “Dũng tuyền (suối tuôn)—giống như dòng nước từ lòng đất vọt lên, trào ra thao thao bất tuyệt.
- “Thằng mặc” (dây mực của người thợ)—ý nói “kinh” là một loại khuôn thước, mẫu mực. Nên nói: “bất dĩ quy củ, bất thành phương viên” (không dùng compa và thước kẻ, không thể thành hình vuông và hình tròn—ngụ ý “không có mẫu mực, không thể thành tựu”), như quý vị vẽ họa đồ, nhất định phải có cây compa và cây thước kẻ, mới có thể vẽ nên hình nên dáng được.
- Kết man—kết là buộc lại với nhau; man là vòng hoa.
Đây đều là ý nghĩa của “Kinh”, kinh lại có bốn nghĩa khác là “Quán, Nhiếp, Thường, Pháp”.
(1). Quán—là “xâu kết những đạo lý đã nói”, giống như dùng sợi chỉ, xỏ xuyên qua các ý nghĩa trong kinh, khiến cho đầu, giữa, cuối đều nhất quán. Như khi chúng ta viết văn chương phải có “khai, hợp, chuyển, chiết” (mở đầu, kết hợp, chuyển ý và tóm yếu lại chủ đề).   
(2). Nhiếp—nghĩa là “nhiếp trì sở hóa cơ” thâu nhiếp hết mọi căn cơ để hóa độ. Tất cả chúng sanh đều được hóa độ, người nào thích dùng vị chua, ngọt, đắng, cay, mặn, trong kinh đều có đủ; ai thích tu theo pháp môn nào, trong kinh cũng không thiếu.
 (3). Thường—là vĩnh viễn không đổi. Những kinh điển từ khi Phật nói cho đến nay, không ai có thể sửa đổi, một chữ cũng không được bớt, một chữ cũng không được thêm; không tăng không giảm, nên gọi là “Kinh”.
(4).  Pháp—chính là “phương pháp”. Phương pháp trong kinh nói là phương pháp mà chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói. Tất cả chúng sanh trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều phải y chiếu theo những phương pháp đó mà tu học, nên gọi là “Pháp”.
Chữ “Kinh” còn có rất nhiều nghĩa. “Kinh,” theo tiếng Phạn là “tu-đa-la” (Sutra); Trung Hoa dịch là “Khế kinh.” “Khế” tức là “khế hợp”—trên thì khế hợp với tâm Phật,  dưới thì khế hợp với tâm chúng sanh. Cho nên,  “Phật, chúng sanh, tâm” —cả ba đều không khác biệt nhau; đây cũng chính là chữ “kinh” này—ba loại pháp môn “tâm pháp, chúng sanh pháp, Phật pháp” hoàn toàn chẳng có sự khác biệt.
Bất Dị Pháp Sư.

3248 Lượt xem

Tin và ảnh: Super User

Các tin có liên quan


Thông Tin
Thông Tin Học Giáo Pháp.

Thông Tin Học Giáo Pháp.
Kính thưa Chư Quyến Thuộc gần xa!
Chương trình: Tu Học Phật pháp, bắt đầu từ sáng thứ 3, ngày 19/12/2017, sẻ học bộ Kinh DUY MA CẬT, trực tiếp tại trang Facebook: Hiển Dương Chân Lý.
Hàng tuần vào sáng ngày thứ 3, 5, 7 (Giờ Mỹ...Xem thêm

Video Nổi bậc
Ảnh Hoạt Động Phật Sự
Phật Âm
PHÁP THOẠI
Nghe nhạc phật
Album Nhạc Nổi Bậc
Liên kết Website

Thống kê

Tổng lượng truy cập : 5.541.610 Truy cập

Đang trực tuyến : 3 Phật tử

Tổng số thành viên : 24 Thành viên

Tổng số lượt xem video : 3.544.041 Lượt xem

Tổng số lượt nghe nhạc : 7.880 Lượt nghe

FaceBook