Đang tải...
Loading...
Đang tải dữ liệu...
CHÚNG SANH VÔ BIÊN THỆ NGUYỆN ĐỘ, PHIỀN NÃO VÔ TẬN THỆ NGUYỆN ĐOẠN, PHÁP MÔN VÔ LƯỢNG THỆ NGUYỆN HỌC, PHẬT ĐẠO VÔ THƯỢNG THỆ NGUYỆN THÀNH..

VÀI Ý NGHĨA VỀ KINH ĐỊA TẠNG – Phần 1
 

Cái điều thiếu xót là chúng ta cứ đọc tụng Kinh Địa Tạng, theo cái kiểu cầu nguyện van xin.  Ôi thôi rồi! Phật pháp suy tàn bởi lòng tin mù quáng.  Trong khi ấy vì lý do gì khác mà một số Tăng Ni mượn Kinh Địa Tạng hay hình tượng Địa Tạng để làm kế sinh nhai, để tô đài tráng lệ Chùa to Phật lớn; nhưng còn chăng khi Phật pháp suy tàn, Phật tử tin cuồng tin dại.  Rồi khi họ nhận biết sẽ ra sao đây? 
Xin thành thật mạnh dạn nói Chân lý Kinh Địa Tạng, mong được đón nhận sự hoan hỷ những ai có chí cần cầu Giáo lý Đại thừa, cùng nhau vượt biển chơi vơi, sang bờ giải thoát.
Giá như ai không bằng lòng cứ mặt nhiên phỉ báng thị phi, chê đi trách đi, sân si thì lỗ lã thiệt thòi ráng chịu.  Ăn cơm Tam bảo đàn na, phải nói đúng sự thật cho họ có an lạc; dầu rằng mình chỉ là một Tăng quê phàm tục.
Tông chỉ của bộ Kinh Ðịa Tạng nằm trong tám chữ: "Hiếu đạo, Ðộ sanh, Bạt khổ, Báo ân."  
Thứ nhất “Hiếu Đạo”:  Con người biết hiếu thảo với cha mẹ thì sẽ làm trời đất rạng rở. Việc khiến trời đất cảm động, cũng chính là lòng hiếu thảo cha mẹ, nên nói: "Thiên địa trọng hiếu, hiếu đương tiên." "Hiếu thuận hoàn sanh hiếu thuận tử." (Cha mẹ biết hiếu thảo thì sẽ sinh con hiếu thảo). Cho nên vì sao phải học làm người? Làm người có ý nghĩa gì? Ðừng nói rằng tôi sinh ra làm người, một cách quá mơ hồ là xong. Không phải vậy đâu! Gốc rễ của cách làm người là ta phải biết bổn phận hiếu thảo với cha mẹ. Bởi vì cha mẹ chính là trời đất, cha mẹ là sư trưởng, cha mẹ cũng là chư Phật. Nếu như quý vị không có cha mẹ thì quý vị sẽ không có được thân thể này, mà không có thân thể này thì quý vị sẽ không bao giờ thành Phật. Cho nên quý vị muốn thành Phật thì trước tiên phải hiếu thảo với cha mẹ. Do vậy điều thứ nhất chính là Hiếu Ðạo.
Thứ hai "Ðộ sinh." Sao gọi là độ sinh? Từ bờ bên này sang bờ bên kia gọi là "độ"; từ sinh tử đến Niết Bàn cũng gọi là "độ"; từ phiền não tới thành Bồ đề cũng gọi là "độ." Nói độ sinh chính là độ chúng sinh. Ðộ chúng sinh không phải nói độ một người, hai người, cũng không phải độ ba người, năm người mà gọi là độ chúng sinh. Ðộ chúng sinh là độ tất cả mười hai loài chúng sinh, giáo hóa, khiến họ đều phát tâm Bồ đề, sớm thành Phật quả. Ðây mới gọi là độ chúng sinh.
Thứ ba "Bạt khổ", vì đây là bộ Kinh dạy ta bạt trừ những khổ não của chúng sinh.
Thứ tư "Báo ân", nghĩa là phải báo ân cha mẹ. 
Tám chữ Hiếu đạo, Bạt khổ, Ðộ sinh, Báo ân này là Tông chỉ của Kinh Ðịa Tạng. 
Nói đến "Nhị thập tứ hiếu" này thì Trung Hoa có một người gọi là Ðổng Vĩnh. Ðổng Vĩnh còn gọi là Ðổng Ảm. Ðổng Vĩnh rất hiếu thảo với cha mẹ. Hàng xóm của anh ta có một người họ Vương, gọi là Vương Kỳ. Ðổng Vĩnh là người nghèo, không có tiền, Vương Kỳ là người giàu có. Nhưng mẹ của Ðổng Vĩnh, vì nhờ có người con hiếu thảo nên được khỏe mạnh mập mạp. Mặc dù đã lớn tuổi, nhưng từ sáng đến tối bà luôn cảm thấy vui vẻ. Còn bà mẹ của Vương Kỳ mặc dù tiền bạc sung túc, ăn thì có thịt heo, thịt gà, cá, vịt, toàn thứ ngon vật lạ, nhưng lại ốm yếu bệnh hoạn. Bà ta không có một chút vui vẻ, luôn đau buồn. Có một hôm Ðổng Vĩnh không có ở nhà, Vương Kỳ cũng không có ở nhà, bà ốm mới hỏi bà mập: "Nhà bà nghèo như thế, cũng không có gì ngon để ăn. Vậy tại sao bà mập như vậy? Bà lớn tuổi như thế, mà mập như vậy là lý do gì? Mẹ của Ðổng Vĩnh mới nói với mẹ của Vương Kỳ rằng: "Bởi vì con của tôi rất là hiếu thảo, nó không dám làm một việc gì xấu cả, lại rất thật thà đúng đắn, cần cù làm việc. Tôi không có điều chi đau buồn về nó, lại rất hài lòng. Tâm hồn thoải mái, thân thể khỏe mạnh, tôi thích như vậy, nên tôi mập được." Sau đó mẹ của Ðổng Vĩnh tức là bà mập hỏi lại bà ốm: "Bà có tiền như thế, ăn toàn là thứ ngon vật lạ, tại sao lại ốm như vậy? Bà ốm như cây sậy, có phải là bệnh gì không? Bà ốm này liền trả lời: "Tôi hả! Tuy có tiền, tuy có đồ ăn ngon, nhưng đứa con của tôi, tánh nó không thật thà, không đúng đắn, thường làm những hành vi phi pháp; hôm hay phạm pháp, ngày mai cũng phạm pháp. Ba hôm nay bị sai nha bắt tra hỏi, mai lại có lệnh gọi của phủ đường gửi đến. Tôi từ sáng đến tối, chỉ lo lắng cho đứa con này, ăn dù ngon cách mấy cũng cảm thấy không vui, từ sáng đến tối lúc nào cũng ưu sầu, lo buồn. Cho nên tôi càng ngày càng ốm đi, mập không nổi, đều là vì buồn bực chuyện này"...
Phân tích Kinh Địa Tạng:
“Chí tâm quy mạng lễ U-Minh Giáo-Chủ, Bổn-Tôn Địa-Tạng Bồ-tát Ma-ha tát: Khể thủ Từ-Bi Đại Giáo-chủ: Địa ngôn: kiên, hậu, quảng hàm tàng. Nam-phương thế-giới dỏng hương-vân, Hương-võ, hoa-vân cập hoa-võ, Bảo võ, bảo vân, vô số chủng, Vi tường, vi thụy, biến trang-nghiêm, Thiên, Nhân, vấn Phật thị hà nhân, Phật ngôn: Địa-Tạng Bồ-tát chí! Tam thế Như-Lai đồng tán ngưỡng, Thập phương Bồ-tát cộng quy y. Ngã kim túc thực thiện nhân duyên, Tán dương Địa-Tạng chân công đức: Từ nhân, tích thiện, Thệ cứu chúng sanh. Thủ trung kim tích, chấn khai địa ngục chi môn, Chưởng thượng minh châu, quang nhiếp đại-thiên chi giới. Diêm-vương điện thượng, Nghiệp-kính đài tiền, Vị Nam Diêm-phù-đề chúng sanh Tác đại chứng minh công đức chủ. Đại-Bi, Đại-Nguyện, Đại-Thánh, Đại-từ, Bổn-Tôn Địa-Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát!”
Chí tâm quy mạng lễ:
U minh Giáo chủ Bản tôn
Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
Lạy đức Từ bi đại Giáo chủ!
Địa là dày chắc, Tạng chứa đủ.
Cõi nước phương Nam nổi mây thơm,
Rưới hương, rưới hoa, hoa vần vũ,
Mây xinh mưa báu số không lường.
Lành, tốt trang nghiêm cảnh dị thường,
Người, Trời bạch Phật: Nhân gì thế?
Phật rằng Địa Tạng đến Thiên đường!
Chư Phật ba đời đồng khen chuộng.
Mười phương Bồ Tát chung tin tưởng,
Nay con sẵn có thiện nhân duyên,
Ngợi khen Địa Tạng đức vô lượng:
Lòng từ do chứa hạnh lành,
Trải bao số kiếp độ sinh khỏi nàn,
Trong tay đã sẵn gậy vàng,
Dộng tan cửa ngục cứu toàn chúng sanh,
Tay cầm châu sáng tròn vin,
Hào quang soi khắp ba nghìn Đại thiên.
Diêm Vương trước điện chẳng hiền,
Đài cao trước cảnh soi liền tội căn,
Địa Tạng Bồ Tát thượng nhân,
Chứng minh công đức của dân Diêm Phù!
Đại Bi, Đại Nguyện, Đại Thánh,
Đại Từ, Bản Tôn Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát.
- Giáo Chủ cõi U minh là gì? Đem ánh sáng đạo lý ra soi đường cho thế-nhân, gọi là Giáo-chủ. U-minh là nơi sâu kín tối tăm, cũng có nghĩa là địa ngục. Tối tăm hay địa-ngục ám chỉ ngu dốt vô minh. Vậy Bồ tát Địa Tạng là người đem ánh sáng vào chổ tối tăm, là tâm vô minh của chúng sanh. 
- Bổn Tôn nghĩa là gì? Bổn là gốc (trái với ngọn), là vốn, là cái sẵn có, như vốn của nhà buôn là phần tiền của nhà buôn sẵn có, khi thiếu mới vay thêm. Cái gốc, cái vốn của chúng-sanh là bản thể, nếu muốn nói theo Hán văn “Tôn là kính trọng”. Vậy Bổn Tôn là Có Sẵn Có đáng kính trọng nơi ta. 
- Địa Tạng nghĩa là gì? Bài Tựa đã trả lời câu hỏi này. Địa là ý nói cứng rắn, sâu dày, còn Tạng (cũng đọc la tàng, như nói tàng trữ) là ý nói ngậm chứa tất cả.  Vậy vị Bồ tát nói trong Kinh không phải là một nhân vật lịch sử như Đức Phật Thích Ca, mà là một nhân vật tượng trưng một thí dụ để chỉ cái Bản thể của chúng sanh. Bản thể ấy thường được biết dưới cái tên là Tâm. Tâm vô hình, vô tướng, không ai đập phá được, do đó nói là cứng rắn. Tâm không thể dò lóng, đo lường được, cho nên nói sâu dày. Ngoài Tâm là cái vô cùng cực, không có một vật gì hết, hay không một vật nào có được ngoài cái vô cùng, vô cực, cho nên nói ngậm chứa tất cả.
 “U-minh Giáo chủ Bổn Tôn.  Địa Tạng Bồ tát Ma-ha-tát” ám chỉ Tâm mà ai cũng có, cho nên nói là sẵn có. Biết tôn trọng Tâm là người đã "minh tâm kiến tánh" và Tâm, trong trường-hợp này, là Giáo-chủ soi đường hắc ám (u minh) cho mình. Các vị Thiền sư dẹp qua một bên Kinh sách và để hết thời giờ vào chỗ tiếp xúc với Tâm (tham thiền) hầu học hỏi với vị Giáo chủ này. Lầm lẫn vì tâm, mà giác ngộ cũng nhờ Tâm. Trong khi bị u minh che ám, muốn thấy đâu chân, đâu giả, đâu thiện đâu ác, hãy lắng lòng trong sạch sẽ thấy. Như thế Tâm không phải là vị Giáo chủ trong cõi U minh sao? 
Địa là đất, mà đất thì cứng rắn, sâu dày và dung chứa muôn loài muôn vật. Bất luận hột giống nào bỏ xuống đất là mọc. Vì vậy lấy đất mà thí dụ cho Tâm (có chỗ Kinh dùng danh từ "tâm địa"). Tâm vô hình, vô tướng làm sao đập vỡ được, cho nên nói là kiên (cứng rắn); cũng không thể dò lóng Tâm được. Tâm là một cái giếng không đáy, ai muốn đi sâu vào nội tâm đến đâu cũng được, vì vậy nói hậu (sâu dày); ngoài Tâm không có vật cho nên nói quảng hàm tàng (ngậm chứa rộng lớn, tất cả). 
Nam phương: chỉ Nam Diêm phù đề hay Ta bà Thế giới là thế giới chúng ta đang ở đây. Nói Nam phương là chỉ chúng sanh ta đây. Ở chúng sanh nào mà có những đám mây thơm, mây đẹp, mây báu là những nhân Chân-Thiện-Mỹ, là có những đám mưa thơm, mưa đẹp, mưa báu tức là những quả Chân- Thiện- Mỹ. Nhân quả ấy chỉ có được ở những người đã thức-tỉnh, đã trở về với Tâm, hay nói một cách khác, ở những người mà Chân Tâm đã hiện, đã tới (Địa-Tạng Bồ-tát chí). 
Tâm là Phật, Phật là Tâm, tại sao lại nói Địa-Tạng Bồ-tát? Đúng như thế, Tâm là Phật, Phật là Tâm, nhưng Tâm ở chúng sanh chưa hoàn toàn thanh-tịnh như Phật, cho nên chưa gọi là Phật được. Tâm ở chúng sanh thức tỉnh là Tâm đang tu sửa như Bồ tát đang tu sửa, cho nên ví Tâm này như Bồ tát. 
Vì Bồ-tát Địa Tạng tượng trưng cho Tâm, mà Tâm một khi hoàn toàn thanh tịnh thì sanh Trí Bát-Nhã (sáng suốt tuyệt vời) cho nên chư Phật ba đời đều phải khen ngợi và kính mến (Tam thế Như Lai đồng tán ngưỡng)
Tại sao cũng đồng Bồ tát như nhau, mà chư Bồ tát trong mười phương lại cùng quy y Bồ-tát Địa-Tạng? Chỉ vì Địa Tạng là Tâm. Muốn thành Bồ tát phải quy y Tâm, Bồ tát mà thành Phật, cần phải quy y Tâm nhiều hơn, vì Tâm là Đại-Từ, Đại-Bi, Đại-Hỷ, Đại-Xả. 
Phải là người đã trồng nhiều duyên lành trong tiền kiếp đời này mới chứng ngộ được Chân tâm, mới thấy hiểu được thế nào là Đại-Từ, Đại-Bi v.v.. Có thấy hiểu như thế mới tán dương những công đức ấy của Tâm; bằng không thì theo thế nhân mà "tán dương" những mê lầm của tâm tham vọng. 
Chân Tâm là Tâm Đại-từ, Đại-bi, cho nên nói Bồ-tát Địa Tạng là nguyên nhân, là hột giống của Lòng Từ (Từ nhân), là nơi tích tụ của những điều thiện (Tích thiện). Có từ, có thiện, tự-nhiên phải nghĩ thương đến người khác, đến chúng sanh, như đức Phật lúc còn là hoàng-tử. Vì có nghĩ thương, nên mới "thệ cứu chúng-sanh", một lời thệ hết sức dũng mãnh đến thành một ý chí cương nghị vô song. Sức mạnh đó là "dụng" của Tâm Từ bi. 
Lòng Từ của Phật quả đúng như vậy, nhưng Ngài phải nói lên một sự thật. Sự thật ấy là Phật chỉ đường mà thôi, còn việc phá cửa ngục vô minh để giải thoát; mỗi chúng sanh phải tự làm lấy. Phá bằng cách nào? Bằng cách dùng Tâm cương quyết đả phá mê mờ.  Vậy Tâm là chiếc gậy sắt có khả năng đập phá cửa ngục, và phải đập đùng đùng như tiếng sét mới phá được.
Nhưng ý chí không, chưa đủ, phải có sáng suốt phụ lực. Sáng suốt ấy là Trí Bát-nhã hay Trí-tuệ tuyệt vời, và Trí ấy do Tâm thanh tịnh làm phát sanh. Vậy Trí cũng là Tâm; vì vậy nên nói Bồ tát Địa Tạng là viên ngọc minh châu sáng soi tam thiên đại thiên thế giới. Minh châu là thứ ngọc có khả năng chiếu sáng trong đêm tối thí dụ cho Trí tuệ sáng soi lòng dạ vô minh hắc ám của chúng sanh.
Tâm chân chánh là vị Diêm vương ngồi trên ngai xử tội. Ai biết tội lỗi của ta bằng ta, ai biết lòng ta bằng ta? Lòng ta là Tâm vậy. 
Tâm ta cũng là đài gương để soi sáng những hành động thiện ác của ta. Tự vấn lương tâm là gì, há không phải ngó vào tấm gương lòng của ta để nhận thấy mọi "nghiệp" của ta? Ai làm chứng cho ta bằng ta. Biết bao công đức âm thầm của những tâm hồn cao cả mà thế nhân không thấy, không biết? Thế nhân không biết mà lòng ta, Tâm ta biết. Do đây nói Bồ-tát Địa Tạng là vị chúa chứng minh công đức của chúng sanh. 
Tâm chân chánh, là lòng Từ (ĐạiTừ) lòng Bi (Đại-Bi), là nguyên nhân của lời thệ nguyện giải thoát giác ngộ (Đại Nguyện), của sự thanh-tịnh (Đại Thánh). 
Xin nói lại: không có Bồ-tát Địa Tạng như một nhân-vật lịch-sử. Bồ tát Địa Tạng ở đây, tượng trưng cho Tâm quyết thoát ly địa ngục tham, sân, si và những thống khổ, là Tâm thanh tịnh, sáng suốt, từ bi; là Tâm biết tự xét. Nếu tin có Bồ tát Địa Tạng thật và tin luôn rằng Bồ tát có khả năng đập phá cửa ngục để giải thoát chúng sanh đắc tội, vậy luật nhân quả, nghiệp báo của Phật còn có giá trị nào? Và con người đâu cần "tự thắp đuốc lên mà đi" như đức Phật dạy, mà cứ tha hồ làm ác, miễn đừng quên kêu cầu với Ngài Địa Tạng là Ngài sẽ cứu vớt cho... 
Trong Kinh Tâm Địa Quán, quyển 8, có câu: "Tam giới chi trung, dĩ tâm vi chủ. Năng quán tâm giả, cứu cánh giải thoát. Bất năng quán giả, cứu cánh trầm luân. Chúng sanh chi tâm, do như đại địa, ngũ cốc ngũ quả, tùng đại địa sanh, như thị tâm pháp sanh thế xuất thế, thiện ác ngũ thú. Hữu-học, Vô-học, Độc-giác, Bồ- tát, cập ư Như Lai. Dĩ thử nhân duyên, tam giới duy tâm, tâm danh vị địa" –
Dịch: Trong ba cõi (dục, sắc và vô sắc), tâm là chủ. Người quán sát được tâm, cuối cùng được giải thoát. Người không quán sát được tâm, cuối cùng chìm đắm vào biển khổ. Tâm chúng sanh giống như mặt đất, năm thứ lúa thứ trái, đều từ đất mà sanh, cũng như vậy, tất cả những lo nghĩ (tâm pháp) của chúng sanh còn kẹt trong thế- sự, hay đã vượt ra ngoài thế-sự, hoặc lành hoặc dữ, những ý niệm hướng về năm nẻo của lục đạo, những ý niệm của hạng Học, Vô học (A-la-hán), của hạng Độc giác, Bồ-tát, cho đến bậc Như-Lai, đều do tâm mà sanh. Bởi cớ, ba cõi chỉ do tâm và tâm được gọi là đất.
(hết phần 1 – Mời quý vị xem phần tiếp theo vào kỳ sau)

 

Bất Dị Pháp Sư soạn lục và giảng giải

662 Lượt xem

Tin và ảnh: Super User

Các tin có liên quan


Video Nổi bậc
Ảnh Hoạt Động Phật Sự
Phật Âm
PHÁP THOẠI
Nghe nhạc phật
Album Nhạc Nổi Bậc
Liên kết Website

Thống kê

Tổng lượng truy cập : 5.150.992 Truy cập

Đang trực tuyến : 2 Phật tử

Tổng số thành viên : 20 Thành viên

Tổng số lượt xem video : 2.455.477 Lượt xem

Tổng số lượt nghe nhạc : 6.409 Lượt nghe

FaceBook